Ngay từ thế kỷ thứ I, bên cạnh lá cờ thêu “Đền nợ nước trả thù nhà”
của
cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, phụ nữ Việt Nam còn biết dùng công việc
thêu thùa để trang hoàng nhà cửa, hơn nữa là để bày tỏ tâm sự, tình cảm
và để làm đẹp cho chính mình.
Tuy nhiên, cho đến nay không ai biết được, nghề thêu tay
Việt Nam được đánh dấu
một bước ngoặt phát triển mới. Sử cũ chép rằng,
ông tổ nghề thêu
tên là Lê Công Hành (sinh ngày 18/01/1606 - mất ngày
12/06/1661)
tại huyện Thường Tín, Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ). Ông vốn là
người họ Mạc.
Khi nhà Mạc bị nhà Lê đánh bại, sợ bị trả thù ông đổi sang
họ ngoại là họ Trần.
Sau đó, vì có công nên ông được nhà Lê ban quốc
tính họ Lê.

Ông thi đỗ Tiến sỹ vào thời vua Lê Chân Tông (1643-1649). Năm 1646,
ông
được cử đi sứ sang Trung Quốc. Chuyện kể rằng vì thấy ông là
người
thông minh nên người Trung Quốc đã bày kế nhốt ông trên một cái lầu cao.
Trên đó chỉ bày một pho tượng bằng đất, một bức nghi môn và hai cái
lọng.
Mấy ngày sau, ông đã đến gần pho tượng và ngửi thấy mùi bánh khảo
quê nên
đã bẻ tượng ra để ăn cho khỏi đói. Thời gian sau đó, ông hạ bức
nghi môn xuống,
tháo ra,
quan sát tỉ mỉ từng sợi chỉ, từng đường thêu
với tâm niệm rằng nào để khi
về nước truyền dạy cho người Việt. Ở trên
lầu một thời gian không thấy ai
mang thang lại cho xuống, vì thế, ông
nghĩ ra cách kẹp hai cái lọng vào hai
bên mình mà nhảy xuống. Triều đình
nhà Minh thừa nhận ông là người thật
sự thông minh,
vì thế buộc phải để
ông về nước…
Về nước, ông đã bắt tay truyền dạy nghề thêu cho con cháu. Nghề thêu
nước ta
phát triển kể từ ngày đó. Những tài liệu xa xưa cho thấy, trải
qua những biến động
của lịch sử, nghề thêu tranh có lúc thăng lúc trầm,
thậm chí có lúc mai một đi,
song nghề thêu tranh vẫn luôn giữ được “lửa”
để truyền từ đời này sang đời khác.
Cho đến thời phong kiến, nghề thêu là một trong những nghề phục vụ cho
Vua chúa
và giới Qúy tộc. Sản phẩm thêu được hoàn thành bởi những chất
liệu chỉ vải do
công sức sáng tạo của những nghệ nhân Việt Nam. Những
sợi chỉ lúc đó
được nhuộm bằng
công thức thủ công với chất liệu hoàn
toàn thiên nhiên như củ nâu, cây chàm,
vỏ bàng, nước điệp, lá vông, đá
mài, hoa hòe…khiến cho người nước ngoài phải
cảm phục để nhận định rằng:
“Nhìn những màu nước nhuộm của các cô thợ thấy
rất dơ dáy
không ngờ đến
khi nhuộm xong đều đủ hết một bảng màu vô cùng lạ lùng
tưởng như phù
phép mới có được".
Trong thời kỳ đó nghề thêu thường là do người phụ nữ Việt Nam đảm
trách,
theo quan niệm của nho giáo, người con gái phải hoàn thiện được
tứ đức
“Công - Dung - Ngôn - Hạnh” như người xưa từng nói:
“Trai thì đọc sách ngâm thơ
Gái thì kim chỉ thêu thùa vá may”
Đại đa số phụ nữ cả nước đều biết thêu, tuy nhiên tập trung và có tính
chuyên nghiệp từ lâu đời là ở Huế. Khi triều đại nhà Nguyễn xây dựng ở
Cố Đô Huế, bà Hoàng Thị Cúc mẹ vua Bảo Đại, cùng với Nam Phương Hoàng
Hậu
đã kết hợp những ưu điểm của kỹ thuật thêu Châu Âu với những tinh
hoa của
nghệ thuật thêu Châu Á để biến nó trở thành nghệ thuật thêu của
Cung Đình,
gắn liền với
những đặc điểm thùy mị, tinh tế, tỉ mỉ của người
con gái xứ Huế.
Gabrielle học giả người Pháp, chuyên nghiên cứu văn hóa Á Đông viết:
“…Nhiều nơi đã truyền lại cho con cháu những ngành nghề lạ lùng là
vẽ
hình bằng chỉ làm cho bông sen, bông tự nở trên lụa, làm cho
bươm bướm
trên mặt nước trong xanh, người thợ thêu An Nam khéo léo
hơn người thợ
thêu Trung Quốc về đường kim mũi chỉ và cách pha màu sắc…”
Hocquard soạn giả sách nói về nghề thêu cuối thế kỷ XIX nhận định:
“Người thợ thêu Việt Nam tỏ ra rất khéo léo trong việc phân bổ màu sắc
trên lụa,
để có những bức tranh thêu hòa hợp không chát chúa.”
Trải qua hàng thế kỷ thăng trầm, nghề thêu có khi lên xuống nhưng nó
vẫn giữ được bản sắc văn hóa lâu đời của dân tộc.
Từ Bắc, Trung, Nam ở đâu cũng có những nghệ nhân giỏi, giàu sáng tạo
và
yêu nghề. Chính niềm yêu nghề, sự cần mẫn của những người nghệ nhân
đã
khiến cho tranh thêu tay ngày càng trở lên độc đáo, tinh xảo và phá cách hơn.
Với chất liệu (chỉ, vải) ngày một phong phú, với ý thức sáng tạo nghệ
thuật,
người nghệ nhân đã dần biến tranh thêu vươn đến đỉnh cao của nghệ
thuật.
Không chỉ là những đường kim mũi chỉ, tranh thêu tay đã thể hiện được cả
những thăng trầm của thời gian, tái hiện những biến
cố của lịch sử. Đồng thời,
mỗi bức tranh thêu chỉ còn ẩn dấu vẻ đẹp của
văn hóa dân tộc, vẻ đẹp mộc mạc
và giản dị và cả tình người chân thành
nồng ấm của người Việt Nam…
Cô Gái Bên Khung Cửi, Chân Dung Bác Hồ, Đám Cưới Chuột…những bức tranh
được “dệt” lên từ những đường kim, mũi chỉ giờ đây đã thực sự chinh phục
được những người yêu nghệ thuật Việt Nam. Không chỉ có vậy,
tranh thêu tay truyền thống Việt Nam còn làm siêu lòng đông đảo
những người yêu nghệ thuật ở nhiều nước.
|